|
THÔNG TIN CƠ BẢN
THÀNH PHỐ THƯỢNG HẢI
Dân số:
Tổng dân số thành
phố Thượng Hải năm
2006 là 18,67 triệu
người. Mật độ dân số
là 2.945 người/km2.
Diện tích:
Tổng diện tích thành
phố Thượng Hải là
6.340,5 km2,
chiếm 0,06% tổng
diện tích cả nước
Trung Quốc, khoảng
cách từ Bắc đến Nam là 120 km, từ Đông sang Tây là
100 km.
Vị trí địa lư:
Thượng Hải nằm ở bờ
tây Thái B́nh Dương,
phía đông Trung
Quốc, thuộc vùng
đồng bằng châu thổ
Trường Giang, phía
đông là biển Đông
Hải, phía nam giáp
vịnh Hàng Châu, phía
tây liền kề hai tỉnh
Giang Tô, Triết
Giang, phía bắc là
nơi sông Trường
Giang đổ ra biển.
Địa h́nh:
Địa h́nh thành phố
chủ yếu là đồng bằng
có độ cao trung b́nh
4m so với mực nước
biển, phía Tây Nam
có một số g̣ đồi
thấp với đỉnh cao
Đại Kim Sơn cao
104m, cao nhất thành
phố. Hệ thống sông
hồ chằng chịt với
sông chính là Hoàng
Phố và Ngô Tùng, hồ
Điện Sơn giáp giới
tỉnh Giang Tô có
diện tích 63 km2;
ven biển có các đảo
lớn như Sùng Minh,
Trường Hưng, trong
đó đảo Sùng Minh có
diện tích 1.083 km2,
là đảo lớn thứ ba
của Trung Quốc.

Trên sông Hoàng Phố
Khí hậu:
Thượng Hải thuộc
vùng khí hậu gió mùa
cận nhiệt đới, bốn
mùa phân biệt rơ
ràng, lượng mưa, ánh
sáng nhiều. Nhiệt độ
b́nh quân hàng năm
khoảng 17,50C,
thời gian mặt trời
chiếu sáng trong năm
khoảng 1.778,3 giờ,
lượng mưa khoảng
1.254,9 mm, hơn 70%
lượng mưa tập trung
từ tháng 5 đến tháng
9. Từ giữa tháng 6
đến giữa tháng 7
hàng năm, thành phố
có khoảng thời gian
xảy ra hiện tượng
thời tiết Mai Vũ
(trời mưa nhỏ và kéo
dài đến gần 20
ngày).
Đơn vị hành chính:
Thành phố phân thành
18 khu và 1 huyện:
Các khu Hoàng Phố,
Phố Đông, Sạp Bắc,
Trường Ninh, Dương
Phố, Phổ Đà, Lô
Loan, Tịnh An, Bảo
Sơn, Từ Hối, Hồng
Khẩu, Gia Định, Mân
Hàng, Tùng Giang,
Kim Sơn, Thanh Phố,
Nam Hối, Phụng Hiền
và một huyện Sùng
Minh.

Khu Phố Đông về đêm
Lịch sử:
Thượng Hải có tên
gọi tắt là “Hộ” hoặc
“Thân”. Cách đây
khoảng 6.000 năm về
trước, vùng phía tây
Thượng Hải bây giờ
đă h́nh thành, c̣n
vùng phía Đông có
lịch sử h́nh thành
ngắn hơn, vào khoảng
2000 năm. Vào thời
Xuân Thu Chiến Quốc,
Thượng Hải là đất
phong của Xuân Thân
Quân Hoàng Yết nước
Sở, do vậy Thượng
Hải c̣n có tên là
“Thân”. Vào thời nhà
Tấn (thế kỷ IX, V
trước Công nguyên),
các cư dân ở vùng
duyên hải và vùng
Tùng Giang đa phần
sinh sống bằng nghề
đánh cá, họ chế tạo
một công cụ đánh cá
làm bằng nan tre gọi
là “hộ”, từ đó cả
vùng này c̣n có tên
là “Hộ”.
Năm 751 vào thời nhà
Đường, khu vực
Thượng Hải thuộc
huyện Hoa Đ́nh, phạm
vi từ phía bắc đến
vùng Hồng Khẩu ngày
nay, phía nam giáp
biển, phía đông đến
Hạ Sa.
Năm 991 vào thời nhà
Tống, do thượng du
Tùng Giang bị tắc
nghẽn, đường bờ biển
mở dài ra phía đông,
thuyền bè ra vào
phải đỗ tại “Thượng
Hải Phố” – một sông
nhánh của Tùng Giang
(cũng tức là sông
Hoàng Phố đoạn từ
phía đông bến Thượng
Hải đến Thập Lục
Phố).
Năm 1267 vào thời
nhà Nam Tống, bờ tây
Thượng Hải Phố bắt
đầu xây dựng thị
trấn, đặt tên là
trấn Thượng Hải. Năm
1292, nhà Nguyên
tách trấn Thượng Hải
khỏi huyện Hoa Đ́nh,
thành lập huyện
Thượng Hải, đánh dấu
lịch sử bắt đầu xây
dựng thành phố
Thượng Hải.
Từ thế kỷ XV thời
nhà Minh, Thượng Hải
trở thành trung tâm
thủ công nghiệp của
cả nước. Năm 1658,
vua Khang Hy nhà
Thanh thiết lập hải
quan Thượng Hải. Đến
giữa thế kỷ XIX,
Thượng Hải trở thành
hải cảng tập trung
đông đảo các thương
nhân.
Từ sau hai cuộc
chiến tranh nha
phiến (1839 – 1842
và 1856 – 1860),
Thượng Hải biến
thành cửa khẩu thông
thương của thực dân.
Trong khoảng 100 năm
sau đó, nhiều nước
tiến hành xâm chiếm
Thượng Hải, đặt tô
giới riêng.
Ngày 27/5/1949,
thành phố Thượng Hải
được giải phóng,
viết nên trang sử
mới cho sự phát
triển của thành phố.
Thượng Hải hiện nay
là thành phố có
nhiều di tích văn
hóa lịch sử nổi
tiếng, là trung tâm
kinh tế lớn nhất của
Trung Quốc.

Trên đường phố
Thượng Hải ngày nay
Chính trị:
Cơ cấu tổ chức chính
quyền địa phương:
Chính quyền Nhân dân
Thành phố và các Ủy
ban, Cục cơ quan
chức năng như Ủy ban
Phát triển và Cải
cách, Ủy ban Giáo
dục, Ủy ban Kinh tế,
Ủy ban Khoa học kỹ
thuật, Ủy ban Nông
nghiệp, Ủy ban Các
sự vụ Tôn giáo và
Dân tộc, Cục Công
an, Cục Dân chính,
Cục Tài chính, Cục
Dân sự, Cục Lao động
và Xă hội, Cục Y tế,
Cục Thủy lợi, Cục
Thống kê, Cục Thể
dục Thể thao…

Ṭa Thị chính Thượng
Hải
Lănh đạo Thành phố
Thượng Hải:
Bí thư Thành ủy: Du
Chính Thanh.
Thị trưởng: Hàn
Chính.
Kinh tế:
GDP:
Năm 2006, GDP toàn
thành phố Thượng Hải
ước tính đạt 1.029,7
tỷ Nhân dân tệ
(NDT), thu nhập b́nh
quân đầu người
55.153 NDT.
Cùng với sự phát
triển mạnh mẽ của
nền kinh tế, thu
nhập tài chính của
thành phố liên tục
tăng trưởng với mức
tăng b́nh quân mỗi
năm 18,5%. Năm 2005,
Thượng Hải hoàn
thành mức thu tài
chính 409,6 tỷ NDT.
Năm 2005, doanh thu
về du lịch đạt 58,5
tỷ NDT, tăng 15,8%
so với năm trước,
chiếm 6,4% GDP toàn
thành phố, đón tiếp
5,714 triệu lượt
khách quốc tế với
doanh thu 3,608 tỷ
USD; đón 90,12 triệu
lượt khách nội địa
với doanh thu 13,084
tỷ NDT, tăng 7,6%.
Xuất nhập khẩu năm
2005 tiếp tục tăng
với tổng kim ngạch
đạt 186,37 tỷ USD,
tăng 16,5%; trong
đó, kim ngạch nhập
khẩu là 95,623 tỷ
USD, tăng 10,5%, kim
ngạch xuất khẩu đạt
90,742 tỷ USD, tăng
23,4%.
Vai tṛ của Thượng
Hải đối với sự tăng
trưởng của Trung
Quốc:
Thượng Hải là thành
phố trực thuộc trung
ương của Trung Quốc,
một trong những
thành phố lớn nhất
thế giới, là hải
cảng quan trọng,
trung tâm thương mại
tài chính ngân hàng
sầm uất và công
nghiệp hiện đại bậc
nhất của Trung Quốc.
Nông nghiệp Thượng
Hải được cơ giới hóa
cao. Cây trồng lương
thực như lúa nước,
lúa mạch chiếm gần
một nửa tổng giá trị
sản xuất nông
nghiệp. Cây trồng
kinh tế chính là
bông, cải dầu. Đặc
sản nông nghiệp nổi
tiếng có cá chép
Trường Giang, cá lô
bốn mang Tùng Giang,
cua Điện Sơn, trái
cây như đào, lê vỏ
mỏng nước nhiều.
Từ đầu thế kỷ XVI,
Thượng Hải đă là đô
thị thủ công nghiệp
lớn nhất của Trung
Quốc. Đến nay,
Thượng Hải đă trở
thành thành phố công
nghiệp lớn nhất cả
nước, giá trị sản
xuất công nghiệp
chiếm gần 90% tổng
giá trị sản xuất của
thành phố, đứng hàng
đầu so với các tỉnh,
khu khác. Giá trị
sản xuất của các
ngành công nghiệp
đóng tàu, thiết bị
động lực, máy móc,
dụng cụ đo lường,
hóa chất, vi điện,
viễn thông, sinh
học, vật liệu mới…
đều đứng hàng đầu cả
nước. Ngành luyện
kim, tơ sợi, sản
xuất ôtô, điện khí
gia dụng… có quy mô
sản xuất lớn. Ngành
công nghiệp dệt may
của Thượng Hải rất
phát triển, chiếm
khoảng 60% hàng xuất
khẩu của thành phố
này.
Các ngành nghề là
thế mạnh:
Dịch vụ, thương mại,
tài chính, công
nghiệp…
Giao thông vận tải:
Thượng Hải là đầu
mối giao thông đường
hàng không, đường
sắt, đường ôtô lớn
nhất ở miền Hoa
Đông, là hải cảng
lớn nhất của Trung
Quốc và là một trong
10 cảng lớn của thế
giới. Cảng Thượng
Hải là cửa ngơ đường
biển chủ yếu của
Trung Quốc, trải dài
trên 170 km với 60
bến đậu.

Cảng Thượng Hải
Đường sông với hệ
thống sông chính
Hoàng Phố và Ngô
Tùng có chiều dài
trên 2.100 km. Độ
dài đường sắt trên
750 km với các tuyến
Tân Hộ, Hộ Hàng nối
các thành phố lớn
khác trong cả nước.
Chiều dài đường ôtô
hơn 4.000 km, trong
đó có tuyến đường
ôtô cao tốc Hộ Ninh,
Hộ Hàng. Thượng Hải
c̣n là trung tâm
hàng không quan
trọng, là một trong
những sân bay quốc
tế lớn nhất thế
giới, có đầy đủ
đường bay nối các
thành phố lớn của
Trung Quốc và thế
giới.

Tàu điện từ sân bay
quốc tế Thượng Hải
về trung tâm thành
phố
Văn hóa - xă hội:
Một số danh lam
thắng cảnh nổi
tiếng:
Thượng Hải có 16 di
tích bảo vệ trọng
điểm cấp quốc gia,
114 di tích bảo vệ
cấp thành phố, 29 di
tích kỉ niệm. Thượng
Hải giữ được nhiều
di tích, nhà vườn
đặc sắc thời Đường,
Tống, Nguyên, Minh,
Thanh. Các danh
thắng nổi tiếng có
chùa cổ Tịnh An được
xây dựng từ thời Tam
Quốc, chùa cổ Long
Hoa, chùa Ngọc Phật,
Dự Viên, Khổng Miếu
Gia Định, hồ Túy
Bạch. Thượng Hải c̣n
là thành phố có
truyền thống cách
mạng với nhiều di
tích cách mạng như
di tích Hội nghị
Đảng Cộng sản Trung
Quốc lần thứ 1, nơi
ở của Tôn Trung Sơn,
Mao Trạch Đông, Chu
Ân Lai, Lỗ Tấn…

Chùa Ngọc Phật

Dự Viên
Thắng cảnh thời hiện
đại có Bến Thượng
Hải, Tháp truyền
h́nh Đông Phương…

Tháp truyền h́nh
Đông Phương
Các lễ hội đặc sắc
của Thượng Hải:
Lễ hội Văn hóa dân
gian.
|